NĂM PHỤNG VỤ
“Năm Phụng Vụ khai triển mầu nhiệm Vượt qua dưới nhiều khía cạnh, đặc biệt là chu kỳ các lễ xoay quanh mầu nhiệm Nhập thể (Truyền Tin, Giáng sinh, Hiển Linh) gợi lại những biến cố khởi đầu ơn cứu độ và cho chúng ta hưởng nhờ hoa trái đầu mùa của mầu nhiệm Phục sinh”. (GLHTCG 1171)
Năm phụng vụ là chu kỳ thời gian trong một năm về sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, trong quá khứ cũng như hiện tại. Theo cái nhìn của lịch sử cứu độ, phụng vụ không chỉ tưởng niệm các biến cố đã xảy ra, nhưng còn hiện tại hóa, làm cho các biến cố ấy đi vào đời sống hôm nay một cách mầu nhiệm.
LỊCH PHỤNG VỤ
Lịch là một hệ thống đo thời gian cần thiết cho cuộc sống con người thành năm, tháng, tuần, ngày… Âm lịch là lấy một vòng quay của mặt trăng chung quanh trái đất làm một năm, còn Dương lịch lấy một vòng quay của trái đất chung quanh mặt trời làm một năm. Người Rôma sử dụng Dương lịch từ thế kỷ VII trước Đức Giêsu Kitô, nhưng một năm chỉ có 304 ngày và một năm chỉ có 10 tháng, tháng đầu năm là tháng Ba và ngày đầu năm là mồng 1 tháng 3. Bằng chứng là tháng 9, 10, 11, 12 của chúng ta ngày nay theo La ngữ hay Pháp ngữ : Septembre là tháng Chín (nhưng septem theo Latinh lại là số 7, nghĩa là tháng thứ bảy theo lịch cũ của Rôma), Octobre là tháng Mười (octo : 8), Novembre là tháng 11 (novus : 9), Décembre là tháng 12 (decem : 10).
Năm 46 trước Đức Giêsu Kitô (AC), Jules César đã cải cách lịch Rôma thành một năm có 365 ngày với 12 tháng (thêm tháng 1 và tháng 2 vào đầu năm), ngày đầu năm là mồng 1 tháng Giêng và cứ 4 năm có một năm nhuận 366 ngày (năm nhuận là năm chia chẵn cho 4). Nhiều quốc gia đã sử dụng lịch này nhưng ngày đầu năm (Tết) vẫn chưa mừng vào 01/01.
Sang thế kỷ XVI, các nhà thiên văn và làm lịch nhận thấy 1 năm trung bình có 365 ngày và 6 giờ là có vòng quay chậm hơn vòng quay của trái đất chung quanh mặt trời là 11 phút và 12 giây. Như thế là cho đến năm 1582, so với lịch Jules César, bị chậm mất 10 ngày. Do đó ngày 24/2/1582, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ban hành sắc chỉ lấy ngày 04/10/1582 làm ngày 15/10/1582; mỗi năm vẫn có 365 ngày, và cứ 4 năm lại có một năm nhuận nhưng những năm cuối thế kỷ (1700, 1800, 1900…) được coi là những năm thường (365 ngày) trừ những năm chia chẵn cho 400 (vd : năm 1600, 2000, 2400 vẫn là những năm nhuận).
Lịch cải cách của Đức Grêgôriô có lợi điểm là phải 4000 năm mới có sự sai biệt 1 ngày, và đã được thế giới sử dụng. Năm 1918, nước Nga mới nhìn nhận lịch Grêgôriô, vì thế cuộc cách mạng 1917 của Nga được gọi là Cách Mạng Tháng Mười theo cách gọi của lịch cũ, còn chính xác thì cuộc cách mạng xảy ra vào ngày 07/11/1917 theo lịch Grêgôriô.
Về niên biểu, mỗi nước có một cách tính niên hiệu riêng, thường là dựa vào triều đại của các vua. Đức Giêsu sinh vào thời mà dân tộc Do Thái đang sử dụng Âm lịch và đế quốc Rôma đang sử dụng Dương lịch. Đất nước Do Thái đang bị đô hộ bởi đế quốc Rôma, cho nên các tác giả sách Phúc Âm xác định niên biểu theo niên hiệu của các hoàng đế Rôma (x. Lc 3,1) hoặc tính từ năm thành lập thành Rôma. Vào thế kỷ VI, một tu sĩ tên là Điônixiô đã quy định thời đại Kitô giáo, lấy năm Đức Giêsu sinh ra làm năm thứ nhất, tương ứng với năm 754 kể từ năm lập quốc Rôma. Tu sĩ này đã dựa vào Lc 3,1 (Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô) để xê dịch các niên hiệu Rôma thành niên hiệu Chúa Giêsu Kitô (trước Đức Giêsu viết là AC hoặc sau Đức Giêsu là PC), nhưng cách tính của ông có sự sai sót vài năm. Thế nên, Đức Giêsu phải sinh ra trước đó vài năm, khoảng năm 6 – 4 AC.
Hội Thánh Công Giáo có lịch riêng là lịch Phụng vụ, bắt đầu từ Chúa Nhật I mùa Vọng (khoảng cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12) cho tới tuần cuối cùng của mùa thường niên. Tuy nhiên trong các sinh hoạt, Hội Thánh vẫn theo lịch dân sự đang thịnh hành ngày nay, và ghi thêm vào đó các ngày lễ Công Giáo.
NGÀY CHÚA NHẬT
“Theo truyền thống tông đồ bắt nguồn từ chính ngày Chúa Kitô sống lại, Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Phục sinh vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật đáng được gọi là ngày của Chúa hay ngày Chúa Nhật’ (PV 106). Ngày Chúa Kitô Phục sinh vừa là ‘Ngày thứ nhất trong tuần’ vừa gợi lại ngày đầu của công trình sáng tạo, vừa là ‘Ngày thứ tám’, sau khi ‘an nghỉ’ trong ‘ngày Sa- bát vĩ đại’, Chúa Kitô khai mạc ‘ngày Chúa đã làm nên’, ‘ngày không còn đêm tối’. Bữa tiệc của Chúa là trọng tâm của ngày này, ở đó tất cả cộng đoàn tín hữu được gặp Chúa Kitô Phục sinh, Đấng mời gọi họ vào dự tiệc : ‘Hôm nay là Ngày của Chúa, ngày của các Kitô hữu, cũng là ngày của chúng ta. Hôm nay được gọi là ngày của Chúa, vì là ngày Đức Giêsu khải hoàn lên với Chúa Cha. Nếu người ngoại giáo gọi là ‘ngày mặt trời’, chúng ta cũng sẵn sàng chấp nhận: vì hôm nay, muôn dân được thấy Ánh Sáng, hôm nay Mặt Trời Công Chính mang lại ơn cứu độ xuất hiện’ (Th Giêrimô).
Ngày Chúa Nhật là ngày tuyệt hảo để cộng đoàn tín hữu tập họp cử hành Phụng Vụ, ‘để lắng nghe Lời Chúa và tham dự vào Bí tích Thánh Thể, để kính nhớ sự Thương Khó, Phục sinh và Vinh quang của Chúa Giêsu, đồng thời cảm tạ Thiên Chúa, vì Người đã dùng sự Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô từ trong kẻ chết mà tái sinh họ trong niềm hy vọng sống động’ (PV 106)” (GLHTCG 1166-1167)
Họp nhau cử hành mầu nhiệm Vượt Qua vào ngày Chúa Nhật là một truyền thống sống động bắt nguồn từ thời các tông đồ, nên nó không chỉ là luật buộc, mà còn là một nhu cầu sinh tử của Kitô giáo và là một đòi hỏi nội tại của đức tin các Kitô hữu. Nếu các Kitô hữu họp nhau vào một ngày khác mà lại không phải là ‘Ngày của Chúa’, ngày truyền thống của Hội Thánh, thì còn gì là hiệp thông nữa ! Vì thế Hội Thánh không bao giờ bỏ mất ngày Chúa Nhật của mình vì Hội Thánh không thể từ khước bản chất của mình là cộng đoàn họp mừng mầu nhiệm Vượt Qua của những kẻ tin vào Chúa Phục Sinh.
Giáo Luật điều 1248 khoản 1 quy định :
“Ai tham dự thánh lễ vào chính ngày lễ hay vào chiều ngày trước lễ, thì người ấy đã chu toàn việc buộc dự lễ”.
Vì thế, thánh lễ chiều thứ Bảy và chiều trước ngày lễ trọng sẽ phải cử hành cho long trọng và đầy đủ mọi yếu tố của ngày chính lễ. Nếu lễ trọng có lễ vọng thì chiều hôm trước phải cử hành lễ vọng, còn nếu không có lễ vọng thì chiều hôm trước cử hành bản văn của chính ngày lễ trọng hôm sau.
TÂM ĐIỂM CỦA NĂM PHỤNG VỤ
Năm phụng vụ diễn tả lịch sử cứu độ, và tuyệt đỉnh của lịch sử này là cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô. Các lời rao giảng tiên khởi của các tông đồ (kerygma) đều xoay quanh mầu nhiệm Tử Nạn và Phục sinh của Đức Giêsu Kitô (Cv 2,14-36; 3,12-26; 4,1012; 5,29-32) như một mẫu số chung cho các lời rao giảng và cử hành phụng vụ. Ban đầu, phụng vụ của Hội Thánh tiên khởi chỉ triển khai mầu nhiệm Vượt Qua như là tâm điểm của phụng vụ và là nội dung căn bản của sứ điệp Tin Mừng. Dần dần, phụng vụ thêm vào những mầu nhiệm khác của Chúa Giêsu nhưng tất cả đều tập trung vào mầu nhiệm Tử Nạn và Phục sinh là nội dung duy nhất của phụng vụ.
Công đồng Nixê (325) đã quyết định thống nhất ngày cử hành lễ Phục sinh trong toàn Hội Thánh vào ngày Chúa Nhật sau ngày 14 tháng Nisan của người Do Thái. Do đó, lễ Phục sinh không cố định mà xê dịch hàng năm.
Năm Phụng Vụ bắt đầu với Chúa Nhật I mùa Vọng và kết thúc bằng lễ Chúa Kitô Vua, xen kẽ với việc mừng kính các mầu nhiệm về Chúa, Đức Maria và các thánh, và đỉnh cao là Tam Nhật Vượt Qua.



